Trang chủ / Công nghệ sàn Bubbledeck

Giới thiệu về ưu và nhược điểm của công nghệ sàn rỗng BubbleDeck

Ngày đăng: 28/07/2015

  • Giới thiệu Công nghệ sàn rỗng BubbleDeck:

    BubbleDeck là một Công nghệ thi công sàn bê tông cốt thép mang tính cách mạng trong xây dựng khi sử dụng những quả bóng bằng nhựa tái chế để thay thế phần bê tông không tham gia chịu lực ở thớ giữa của bản sàn, làm giảm đáng kể trọng lượng bản thân kết cấu và tăng khả năng vượt nhịp lên khoảng 50%. Công nghệ này đã được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng sáng chế độc quyền và được cấp chứng nhận đạt Tiêu chuẩn Xây dựng Châu Âu.
     
    I. Ưu điểm của Công nghệ:



     

    1. BubbleDeck là công nghệ thi công tấm sàn phẳng, rỗng theo hai phương không dầm, ít cột và có khẩu độ vượt nhịp lớn. Sàn BubbleDeck rất linh hoạt trong thiết kế, có khả năng áp dụng cho nhiều loại mặt bằng công trình, có tính cách âm, cách nhiệt tốt và khả năng chống cháy nổ, tăng tác dụng chống động đất vượt trội.
    2. Với công nghệ BubbleDeck, việc thi công tấm sàn có thể tiết kiệm tới 35% lượng bê tông sàn so với sàn truyền thống, giảm thời gian lắp dựng mỗi sàn xuống 5 đến 7 ngày, giảm tải trọng bản thân tấm sàn cũng như tải trọng trên phần móng công trình, từ đó giảm kích thước hệ kết cấu cột, vách, móng.
    3. Đặc điểm nổi bật của BubbleDeck: Là khả năng chịu lực của một tấm sàn đặc gặp rất nhiều vấn đề khi phải vượt nhịp lớn do ảnh hưởng của trọng lượng bản thân. BubbleDeck đã giải quyết vấn đề này khi giảm 35% lượng bê tông trong tấm sàn nhưng vẫn đảm bảo khả năng chịu lực tương ứng. Vì vậy, khi có cùng khả năng chịu lực, một tấm sàn BubbleDeck tiết kiệm 35% lượng bê tông và 55% khối lượng thép so với một tấm sàn đặc. BubbleDeck có khả năng chịu lực cắt xấp xỉ 80% khả năng của sàn đặc có cùng chiều cao. Trong tính toán thường sử dụng hệ số 0.8 để thể hiện mối tương quan này. Trong những vùng chịu lực phức tạp ( Khu vực quanh cột, vách, lõi ), có thể bỏ bớt các quả bóng để tăng khả năng chịu lực cắt cho bản sàn.
    4. Khả năng chịu động đất cũng là một trong những ưu điểm của BubbleDeck. Lực động đất tác động lên công trình có giá trị tỷ lệ với khối lượng toàn công trình và khối lượng tương ứng ở từng cao độ sàn BubbleDeck, tấm sàn phẳng chịu lực theo hai phương, với ưu điểm giảm nhẹ trọng lượng bản thân, khi kết hợp với hệ cột và vách chịu lực sẽ trở thành một giải pháp hiệu quả chống động đất cho các công trình cao tầng.
    5. Bên cạnh đó là khả năng vượt nhịp của BubbleDeck. Quá trình xác định nhịp lớn nhất mà tấm sàn BubbleDeck có thể vượt qua dựa trên tiêu chuẩn British Standard 8110 và EuroCode 2, có bổ sung hệ số 1.5 để kể đến việc giảm nhẹ bản thân sàn so với sàn đặc truyền thống. Tỷ số giữa nhịp / chiều cao tính toán của tấm sàn L/d ≤ 30 đối với sàn đơn, L/d ≤ 39 đối với sàn liên tục, L/d ≤ 10.5 đối với sàn ngàm một phương.
    6. Tiết kiệm khối lượng bê tông thi công: 2,3 kg nhựa tái chế thay thế cho 230 kg bê tông/m và rất thân thiện với môi trường khi giảm lượng phát thải năng lượng và khí CO2, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ môi trường.
    7. Điều đặc biệt quan trọng, sử dụng công nghệ BubbleDeck có thể tiết kiệm đến  20% - 25% giá thành xây dựng.
    8. Phạm vi ứng dụng sàn BubbleDeck không giới hạn, từ nhà ở dân dụng, Nhà xưởng công nghiệp, Villa, Khách sạn, Cao ốc, Trường học... cho đến khu bãi đậu xe đều đáp ứng tốt.

    II. Nhược điểm của Công nghệ:

    1. Đẩy nổi:
    - Trong quá trình đổ bê tông, nếu không kiểm soát chất lượng cốp pha gỗ, số lượng ty neo có thể gây ra hiện tượng xô lệch bóng hoặc đẩy nổi tấm sàn. Điều này khiến chiều dầy sàn tăng hơn so với thiết kế, lớp bảo vệ bê tông đỉnh quả bóng mỏng và ít nhiều ảnh hưởng đến sự làm việc của kết cấu.

          
     
    Khắc phục:  Kiểm soát kỹ chất lượng cốp pha gỗ, số lượng và quy cách của ty neo theo đúng TCCS 002:2011 và bản vẽ. Như vậy sẽ hạn chế được nhược điểm này.

    - Nếu trong quá trình đổ bê tông mới phát hiện ra thì chọc thủng bóng sau đó nhồi bê tông vào rồi đầm chặt hoặc sau khi bê tông đông cứng nhồi bê tông sau cũng được.
     



    2.     Rỗ đáy:
    - Ở một vài công trình mới sử dụng BubbleDeck xuất hiện hiện tượng này, khi tháo ván khuôn sẽ có 1 vài vị trí nhìn thấy đáy quả bóng – gọi hiện tượng này là rỗ ( trong quá trình đổ bê tông đã bỏ bước đầm hoặc đầm dối ). Gây thẩm mỹ không tốt và ảnh hưởng chút ít đến chất lượng sàn.


    Khắc phục:
    + Chọn độ sụt bê tông khoảng 16±2 là phù hợp, trong quá trình đầm bê tông phải giám sát công nhân đầm đúng kỹ thuật và mật độ đầm theo TCCS 002:2011
    + Sau khi tháo dỡ cốp pha nếu trên bề mặt bê tông xuất hiện các vết rỗ, lỗ hổng thì phải đục hết phần bê tông yếu và các hạt cá biệt của cốt liệu nhô lên. Sau đó rửa sạch toàn bộ bề mặt vết rỗ bằng nước áp lực và lấp đầy vữa bê tông mới vào. Hỗn hợp bê tông để lấp đầy có cùng mác với bê tông cũ nhưng cốt liệu nhỏ hơn. Vữa bê tông lấp đầy phải được đầm chặt, miết cẩn thận.
    + Khi xuất hiện trên bề mặt bê tông có các lỗ hổng, các vết rỗ lớn hoặc bê tông bên trong kết cấu không đông đặc làm giảm khả năng chịu lực của tiết diện và khả năng chống thấm của bê tông, đặc biệt là đối với các kết cấu bê tông cốt thép quan trọng cần phải xử lý bằng biện pháp phun vữa.
     
    3. Nứt bê tông đáy sàn
    - Ở 1 số công trình xảy ra hiện tượng này.
    - Nứt bê tông là hiện tượng thường gặp trong công trình xây dựng trong cuộc sống. Các vết nứt trong bê tông có thể phát triển từ nhiều nguyên nhân, mà bản chất là khả năng chịu uốn kém của bê tông. Các vết nứt trông thấy được thường gặp khi ứng suất uốn lớn hơn khả năng (cường độ) bền uốn của bê tông.
    - Các vết nứt xảy ra trước khi bê tông đóng rắn, chủ yếu do sa lắng, các dịch chuyển trong lúc thi công, bay hơi nước thường được gọi là nứt dẻo. Nứt dẻo có thể được hạn chế phần lớn thông qua việc chú trọng nhiều hơn vào thiết kế cấp phối, quá trình đổ bê tông, dưỡng hộ. Các vết nứt xảy ra sau khi bê tông đóng rắn có thể do nhiều nguyên nhân. Các vết nứt có thể do tác động cơ học, chênh lệch độ ẩm và nhiệt, phản ứng hoá học của các thành phần vật liệu xung khắc ( ví dụ phản ứng kiềm - cốt liệu ) hay do tác động môi trường.
    - Trong khi các hiện tượng nứt thường được quan sát trên các cấu trúc bê tông nên rất cần phải hiểu rằng mọi vết nứt có thể có từ các nguyên nhân khác nhau và có tác động khác nhau đến các tính năng bền lâu và có thể từ khâu thiết kế, quá trình vận hành ( sử dụng ), điều kiện khí hậu, môi trường liên quan đến kết cấu. Do vậy hiện tượng nứt cần phải được phát hiện sớm để xử lý.
    - Nứt cấu kiện BTCT là hiện tượng bình thường. Cấu kiện BTCT có thể bị nứt ở cấp tải trọng nhỏ hơn tải trọng tiêu chuẩn, trong một số trường hợp có thể bị nứt do co ngót ngay trước khi chịu tải. Hiện tượng nứt do uốn thường khó tránh được, song lại tạo điều kiện cho cốt thép chịu kéo làm việc hiệu quả. Điều quan trọng là bề rộng khe nứt phải nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn hay quy phạm thiết kế áp dụng. Giới hạn về bề rộng khe nứt của tiêu chuẩn TCVN 5574: 1991 chủ yếu tập trung vào vấn đề ăn mòn kết cấu.
    - Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5574: 1991 quy định đối với kết cấu/cấu kiện bình thường sử dụng thép cường độ cao, đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 3mm, làm việc ở nơi che phủ, bề rộng khe nứt lớn nhất nhỏ hơn 0.15mm.
     
    * Khắc phục:
    - Sàn nhà nứt gây nhiều lo âu cho người sử dụng , đặc  biệt là những người chưa am hiểu về hiện tượng có ngót bê tông , họ nghĩ  rằng kết cấu có vết nứt có nghĩa là liên quan đến sự mất an toàn , nguy  hiểm trong khi sử dụng , thực chất không phải vậy , các vết nứt do co ngót hoàn toàn có thể sửa chữa được và vị trí sửa chữa có chất lượng tốt hơn những vị trí bê tông thường.
    - Hiện  tại trên thế giới việc sửa chữa các vết nứt bê tông do co ngót , không  còn cách nào hơn  là  bơm keo epoxy được chế tạo theo tiêu chuẩn ASTM C  881 vào trong vết nứt , tác dụng của epoxy là dán 2 bề mặt vết nứt với  nhau , tăng cường khả năng chịu lực và chống ăn mòn cho kết cấu bê tông  cốt thép thậm chí có thể ngăn chặn sự rò rỉ nước .